Hai ngôi làng

Hai ngôi làng, hai nhân vật văn chương, và…
Ký của Ngọc Tấn
Ở Tây nguyên có hai ngôi làng cùng được Nhà văn Nguyên Ngọc lấy làm nguyên mẫu cho văn chương mà trở nên nổi tiếng – ấy là làng Kông Hoa trong “Đất nước đứng lên” và làng Xô Man trong “Rừng xà nu”. Làng Kông Hoa tức làng Stơr, nay thuộc xã Tơ Tung, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai. Còn làng Xô Man thì chính là làng Xốp Dùi, nay thuộc xã Xốp, huyện Đăk Glei, Kon Tum… Lại nữa, cả Anh hùng Núp lẫn “cụ Mết” đều là những nhân vật có thật, cùng nổi tiếng với tài văn của Nguyên Ngọc… Bây giờ thì cả hai nhân vật cùng đã khuất núi trên dưới chục năm rồi, chẳng biết con cháu của họ nay sống ra sao ? Và hai ngôi làng ấy, dễ đã gần hai chục năm tôi cũng chưa một lần trở lại… Hai làng treo ở đầu hai tỉnh, lò dò một mình bằng xe máy nghe chừng cũng ớn. Nhưng rồi ý nghĩ tò mò cứ vương mãi trong đầu khiến tôi quyết đi, lấy Stơ gần hơn “xuất hành” trước …
Đường Trường Sơn Đông lượn lờ giữa những dãy đồi bát úp trơ trụi. Dưới màu mây đặc xám chợt sáng lên rừng bông mía đang vào vụ trổ cờ. Miên man một giang sơn của mía… Chuyến theo ông Núp về thăm làng dạo ấy, những dãy đồi trùng điệp này hãy còn loang lỗ màu rừng. Tiếng mõ đuổi chim trên rẫy vào mỗi mùa suốt lúa xem ra đã lùi vào cổ tích…
Dĩ vãng cái thời chọc lỗ tra hạt, làng Stơr bây giờ cũng đã thay đổi quá nhiều. Cả làng chỉ còn dăm bảy căn nhà sàn nhưng đã lùi ra sau làm nhà bếp. Đủ các dạng nhà xây. Cái kiểu Thái, cái hình ống quãng nhặt quãng thưa, trải dọc con đường trải nhựa xuyên làng. Cả nhà rông cũng đã được hiện đại hóa… Ngắm cảnh làng, cái cảm giác “về làng” đích thực năm nào bỗng trỗi dậy trong tôi… Dạo ấy Stơr còn nhiều nhà sàn lắm, mà là nhà sàn mái tranh. Nghe ông Núp về, cả làng kéo đến chật nhà rông. Một bếp lửa thật lớn được đốt lên. Dân làng quây quần bên ông kể đủ thứ chuyện, nêu đủ thứ thắc mắc. Tôi cứ nghĩ ông sẽ lớn tiếng giảng giải theo kiểu thường thấy của cán bộ cấp trên, nhưng không. Ông ngồi lặng lẽ, đưa cặp mắt voi hiền từ nghe mọi người nói hết, sau đó mới nhỏ nhẹ lấy chuyện gần, chuyện xa rủ rỉ khuyên bảo. Vậy là tất cả mọi người đều xuôi, chẳng ai thắc mắc gì… Quả là một kiểu “dân vận” rất riêng của ông. Người ta bảo ông Núp từng sống ở Thủ đô, ra cả thế giới mà vẫn không quên được nếp làng. Lần đầu tiên tôi đã được chứng kiến cái hồn cốt Bah Nar trong ông hôm đó. Cũng bỡi cái hồn cốt không thể từ được ấy mà sau khi nghỉ hưu ông đã đưa vợ về làng. Tỉnh xây cho ông một căn nhà được coi là khá hoàng tráng thời đó. Thế nhưng chỉ ở được ít lâu ông bỏ, tự làm một căn nhà sàn mái tranh, vách nứa đúng kiểu đồng bào để ở. Lý do ông không chịu ở căn nhà xây kia là nó… không có chỗ cho ông đốt lửa. Rồi ông xin đất làm rẫy, định hòa mình trở lại với cuộc sống làng. Buồn là ý nguyện của ông đã không thực hiện được. Thời gian sau do đau ốm liên miên, ông phải trở lại Plei Ku rồi ra đi vĩnh viễn mà không còn dịp trở lại làng…
Làng Stơr bây giờ được dời về vùng đất mới sau giải phóng. “Làng Kông Hoa” xưa ở trên núi Kông Hoa, cách làng mới bây giờ chừng 3 km… Cũng hôm đó tưởng sẽ kiếm được chút tư liệu gì, tôi đã hăm hở trèo lên. Sau gần hai giờ leo núi bở hơi tai, dấu tích làng hóa ra chỉ còn mỗi cây đa trước sân nhà rông xưa, nơi ông Núp đã phục “bắn Pháp chảy máu”. Thực ra thì đây cũng chỉ là một trong 9 “di tích” của làng Kông Hoa. Để tránh những cuộc càn quét liên miên của giặc Pháp, Kông Hoa đã phải trải qua 9 lần dời làng. Ông Núp kể rằng ngày ấy làng chỉ có hơn ba chục bếp; mỗi bếp 3 – 4 người. Cuộc sống rất đơn sơ lạc hậu và hiểu biết về Cách mạng cũng rất hạn chế. Song với niềm tin vào Đảng và Bok Hồ, họ theo Núp “làm theo lời Đảng mình, đứng lên để cho An Khê được độc lập” ( An Khê tức thị xã An Khê bây giờ. Ngày ấy An Khê là nơi xa nhất đồng bào biết được, đồng nghĩa với khái niệm về đất nước ). Dù phải trải qua muôn vàn gian lao cơ cực nhưng dân làng không sờn lòng. Dựa vào địa hình hiểm trở, đồng bào làm bẫy đá, mang cung. Mỗi lần Pháp càn lên là mỗi lần bỏ xác… Sau năm 1975 cùng với việc đưa làng xuống núi định canh định cư, để đền đáp tấm lòng của đồng bào với Cách mạng, chính quyền đã cho khai hoang ruộng nước, thành lập tập đoàn, đưa cả máy cày về. Rồi hàng loạt dân kinh tế mới từ các tỉnh phía Bắc được đổ vào Tơ Tung. Sau này người ta mới thấy hóa ra sự tác động của văn minh từ mọi miền quê đối với cuộc sống của đồng bào mới là đích thực chứ không phải là số máy với “phương thức sản xuất” lạ lẫm kia…
Dạo hết quanh làng một vòng, tôi quyết định cứ phải vào Ủy ban xã… Chủ tịch xã Đinh Srâng khi nghe tôi ngỏ ý muốn tìm ai đó có thể “bòn đãi” chút gì về làng Kông Hoa, anh ngẫm nghĩ rồi lắc đầu “còn ai nữa đâu. Người già nhất làng bây giờ là ông Dơng nhưng cũng thuộc thời chống Mỹ. Còn bọn cháu thì chỉ biết hiện tại thôi”. Rồi anh nói luôn “Làng Stơr dù tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn trên 50% nhưng so với mấy năm trước đã giảm rất nhiều. Bà con đang cố gắng đưa năng suất cây mía lên, phấn đấu trong vài năm tới phải giảm tiếp hộ nghèo xuống còn một nửa… Nói đến đây Srâng như chợt nhớ ra: A, mà nếu anh muốn tìm “hậu duệ” của Bác Núp để hỏi chuyện thì cũng còn một người đang ở làng đấy. Chị Giang Kim Năm…
Chuyện đánh giặc ông Núp nổi tiếng đến cả thế giới, thế nhưng đời tư ông lại chẳng là người may mắn. Người vợ đầu – bà H’Liêu bị bệnh chết thời chống Pháp, để lại cho ông một con trai là Đinh Ruk. Năm 1954 ông cõng Ruk bấy giờ mới 5 tuổi đi tập kết. Ở Hà Nội ông lấy H’Ben – một cố gái Bah Nar ở đoàn văn công Tây nguyên, được một đứa con trai thì hai người phải li dị. Trở vào Nam chiến đấu, ông lấy Chơrơ, em gái út bà H’Liêu kém ông 20 tuổi theo phong tục “nối dây”. Bà Chơrơ theo ông đến trọn đời nhưng chẳng có đứa con nào. Đinh Trung Kiên – con chung của ông với bà H’Ben thì bị thần kinh từ nhỏ, theo mẹ. Vậy là ông chỉ còn mỗi Đinh Ruk đúng nghĩa với một con trai duy nhất mà thôi…
Ấy thế nhưng Đinh Ruk cũng lận đận nốt về đường vợ con…. Được đào tạo ở trường học sinh miền Nam, năm 1975 Ruk về Gia Lai dạy cấp 2, sau đó lần lượt chuyển sang làm cán bộ tổ chức sở Giáo dục, Ban kiểm tra Đảng rồi ban dân vận. Ý tỉnh cũng cố gắng nâng đỡ nhưng không vị trí nào thành công… Đinh Ruk lấy Kpah H’Nga người Jrai, làm công an; được 2 đứa con thì xãy ra mâu thuẫn. Hai người sống ly thân suốt 10 năm rồi ra tòa ly dị. Năm 1997 Đinh Ruk tái hôn với Giang Kim Năm. Kim Năm là diễn viên đoàn nghệ thuật Đam San, cũng đã có một đời chồng. Hai người có một con chung. Năm 2006, hai vợ chồng cùng nghỉ chế độ mất sức và đưa nhau về làng Stơ sống. Được 1 năm thì Đinh Ruk mất vì trọng bệnh…
– Cuộc đời anh Ruk khổ lắm. Đọc nhật ký anh ấy để lại cứ thấy ngậm ngùi – Kim Nâm kể giọng như nghẹn lại. Đã long đong về nỗi vợ, hai con thì đứa con trai – Đinh Cao Nguyên chỉ học được đến lớp 6 rồi bỏ. Ỷ mình là con cháu Anh hùng Núp, nó uống rượu say, quậy cả chủ tịch tỉnh. Dẫu sao thì cũng không thể để nó làm mang tiếng Anh hùng Núp, tỉnh phải sắp xếp công việc cho nó. Còn đứa con gái là Đinh H’Liên thì đang làm ở Công an tỉnh, năm nay đã gần 40 tuổi vẫn chưa lấy chồng… Từ ngày anh Ruk mất cả hai đứa đều biền biệt. Chẳng thấy chúng nó ghé nhà thắp cho ông, cho bố cây hương…
*
* *
Từ làng Stơ, tôi biết là hoang tưởng nếu nghĩ rằng sẽ còn chút gì là bóng dáng Xô Man trong “Rừng xà nu” thuở ấy. Thế nhưng một cảm giác hụt hẫng vẫn đến với tôi khi vừa đặt chân đến Xốp Dùi. Đeo bám dọc con đường liên xã, kẹp giữa hai dãy núi chất ngất, mới thoáng chiều, một gam màu lạnh đã tái se thung lũng… Cũng như Stơ, Xốp Dùi bây giờ cũng là những ngôi nhà hình ống lô xô đủ hình đủ dạng. Mang gương mặt “hiện đại” nhưng làng vẫn nghèo. Làng có 85 hộ thì đã 36 hộ nghèo. Cả làng chỉ có một người thu nhập cao nhất hơn một trăm triệu đồng/ năm. Họ nghèo bỡi thu nhập chỉ dựa vào củ sắn và hạt cà phê chè năm được năm mất. – “Xốp Dùi xưa ở Kông Lố, bên kia núi Xi Mông, cách trụ sở xã bây giờ chỉ chừng 3 cây số nhưng đường vào hiểm hóc lắm. Vả chăng làng cũ bây giờ cũng chẳng còn gì. Có chăng là một tấm bia ghi dấu “Làng kháng chiến” mới dựng…” Ông A Nghem, Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã gàn lại khi nghe tôi có ý định tìm vào làng cũ. Rồi như đoán định tôi sẽ hỏi tiếp điều gì, ông phân trần: Chuyện làng đánh Pháp, đánh Mỹ tường tận giờ cũng chỉ còn mỗi ông A Bưng năm nay gần một trăm tuổi đang sống ở Hà Nội. Còn lũ hậu sinh chúng tôi, biết cũng chỉ chuyện được chuyện chăng” – ông A Nghem, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã nói vẻ bùi ngùi… Sự háo hức trong tôi thêm một lần hụt hẫng. Quá khứ lịch sử của một ngôi làng đẫm chất huyền thoại lẽ nào đã nằm lại với núi Xi Mông mịt mùng mây phủ ?
Năm 1984 tôi bấy giờ mới bước vào nghề báo. Sự xăng xái đã khiến tôi lầm lũi làm một chuyến công tác lên tận Đăk Glei. Trong bữa rượu suông trắng đêm với một bạn giáo viên, tình cờ anh hỏi “cậu có biết đất này có một cụ Mét không, chính là cụ Mết trong “Rừng xà nu ấy” ? Vậy là sự háo hức đã khiến tôi bỏ qua tất cả kế hoạch để tìm gặp cho được con người huyền thoại ấy…Gần một ngày trời, tôi đã nghe quên ăn bỡi những câu chuyện quá hấp dẫn của ông… Xốp Dùi thuở ấy chỉ gồm khoảng bốn chục nóc nhà biệt lập như một ốc đảo giữa đại ngàn. Nói đến biểu trưng cuộc sống khổ cực của họ có lẽ phải nói đến hạt muối. Để có nó, họ phải băng rừng xuống tận Quảng Nam đổi. Mỗi bếp chỉ được chia một chén nhỏ dùng cho cả năm, không ai dám bỏ vào thức ăn, chỉ thỉnh thoảng lấy ra vài hạt nhấm cho đỡ đói muối… Thế rồi thế giới quan cố hữu của họ bỗng vỡ òa khi Pháp đến đóng đồn ở Đăk Tả, xây ngục Đăk Glei. “Phải đánh Pháp, không có mai mốt Pháp vào làng ăn hết trâu bò. Chúng nó bụng đứa nào cũng to thế chắc phải ăn hết ba con bò mới no…”. Nhưng Pháp là con cháu Yàng, nhờ được Yàng cho đồng xu (đồng Frăng bằng kẽm ) mà biết làm con diều sắt; làm ra súng bắn núi núi lở, đánh nó làm sao ? Nghe tin Săm Brăm nhờ có nước xu mà đánh được Pháp, A Mét băng rừng sang Đăk Lăk tìm. Không găp, ông trở về giả cách đi làm cu li cho Pháp để lấy đồng xu với niềm tin có nó, súng đạn Pháp sẽ không thể đụng đến… Thất bại trong các cuộc giao tranh, A Mét và dân làng dần nhận ra Pháp chẳng phải là con cháu Yàng. Pháp có súng, có diều sắt nhưng vào rừng sâu thì mắt cũng như mù, ông cho dời làng vào núi Kông Lố tổ chức kháng chiến. Dựa vào thế hiểm trở, vào làng chỉ một lối độc đạo, A Mét cho đặt bẫy, gài chông phục kích Pháp… Hàng bao năm trời, Pháp chỉ vào làng được một lần, giết được một người già không kịp chạy lên núi cao. Không khuất phục được Xốp Dùi, trái lại Pháp không biết bao lần bị đòn đau. “Thằng Môn như con ma, biết nó đó mà không thể làm gì được nó…” Bất lực, Pháp ra giá: nếu ai bắt hoặc giết được Đinh Môn thì thưởng 500 con trâu; nếu Môn chịu về hàng thì sẽ cho làm thiếu tướng…
Từ lòng yêu nước sơ khai, tự phát đến lòng yêu nước giác ngộ, A Mét và dân làng Xốp Dùi đã trải qua một con đường với tôi vừa hiện thực vừa thật huyền ảo… Nghe tôi hoài niệm, ông A Nghem hào hứng “Đúng vậy. Và còn cả một thời chống Mỹ sau này nữa”. Theo ông thì Làng Xô Man chính là một phiên bản của Xốp Dùi những năm đánh Mỹ. Điều thú vị nữa là những nhân vật như Mai, Tnú, Dít… đều được nhà văn xây dựng trên những nguyên mẫu có thật: Mai chính là Y Lay, có điều bà… không phải là vợ Tnú. Ông Tnú thì được giữ nguyên tên nhưng không phải đi “ lực lượng” mà làm du kích tại làng. Dít cũng là nhân vật có thật nhưng không phải “chị Dít” mà là… ông A Dít làm du kích… Cứ ngỡ là nhân vật văn học hư cấu hẵn là xa lạ, chẳng ngờ lại sống thật trong lòng người Xốp Dùi đến vậy…
Gốc ở làng Đăk Xay, lấy vợ làng Xốp Dùi rồi trở thành linh hồn của bản trường ca kháng chiến Xốp Dùi, thế nhưng bây giờ hậu duệ A Mét lại chẳng còn gắn bó với ngôi làng này nữa. 5 người con thì một ở thị trấn Đăk Glei, một ở làng Kon Liêng, còn 3 người tụ về Xốp Nghét… Đường đánh giặc của A Mét vinh quang xem ra chẳng kém gì ông Núp, thế nhưng mãi cho tới năm 2013 sau lúc mất ông mới được truy tặng anh hùng. Mà chuyện gác thành tích ấy lại chẳng có gì là nghiêm trọng, to tát… Số là ông có 2 đứa cháu họ, vốn là giáo viên cấp 3 được điều động đi B cũng ở Đăk Glei. Một hôm hai người được phân công áp giải tù binh. Trong đám có mấy tên ngoan cố cố tình đi chậm. Bị thúc, chúng chửi lại. Tức mình, hai người bắn chết mấy tên. Nhân chuyện này, bọn địch tuyên truyền ầm ĩ khắp vùng là Việt Cộng tàn sát tù binh. Cấp trên yêu cầu xử lý kỷ luật vụ này. A Mét tức lắm. Dù là du kích thì cũng không thể tha được, huống hai người là bộ đội chính quy, lại có trình độ nhận thức mà vi phạm kỷ luật. Ông kêu hai người lên chửi một trận rồi tống giam vào conét, không cho ăn cơm. Kỷ luật cán bộ kiểu “quân phiệt” như thế, đương nhiên là ông phải bị kỷ luật… Chuyện là vậy nhưng người ta lại đồn là ông ngược đãi tù binh… Thế nhưng chuyện phong anh hùng muộn xem ra chưa lận đận bằng đời tư. Về điều này thì ông Núp dẫu sao con cháu cũng được nhờ Nhà nước, còn A Mét… Có 5 đứa con nhưng ông đã phải trải 3 đời vợ… Vợ đầu, bà Y Roal theo ông ra Bắc, sinh được một con trai thì bệnh mất. Trở về quê chiến đấu, ông lấy lại bà Y Cháp. Bà Cháp sinh cho ông được 3 con rồi cũng mất. Quãng năm 1985 ông lấy tiếp bà Y Múi. Bà Múi có được một con rồi cũng mất luôn…Tôi ngỏ ý muốn đến thăm các con cụ Mét ở làng xem họ sống thế nào. Ông A Nghem bảo: Họ nghèo lắm. Trừ ông Rươn là cán bộ Nhà nước, 4 người sống ở xã này chỉ mỗi ông A Rơn con bà ba là đủ ăn. Họ nghèo một phần vì học hành dang dở, chỉ tới được lớp 4, lớp 5 thì bỏ ngang để lấy vợ lấy chồng…
Nhà bà Y Hành nằm kế bên con đường chính. Đấy là căn nhà gỗ củ kỹ ám khói, vách thưa đút lọt cà bàn tay. Trong ba chị em cùng mẹ, cùng thuộc diện nghèo sống ở Xốp Nghét, gia cảnh bà vẫn eo sèo hơn cả. Chồng chết để lại cho bà 5 con – 4 trai 1 gái. 4 đứa con trai đều học hàng dở dang, chỉ được cố gái út Y Tuyết. Tuyết đã học xong phổ thông, đang làm y tế thôn, lại là đảng viên. Thế nhưng cô cũng đang giang dở chuyện chồng con. “Chồng mình lười, lại hay uống rượu nên mình phải bỏ…” – cô cười ngượng ngịu rồi lảng chuyện “Căn nhà này làm từ năm 2000, được anh Rươn giúp cho một phần mà nợ tới giờ vẫn chưa trả xong. Mới rồi thu cà phê được có hai triệu rưỡi đã phải trả cho người ta hết…”
Nào phải hổ phụ nào cũng sinh hổ tử… Biết là vậy mà tôi vẫn thấy chạnh lòng. Con đường trở về bỗng dưng dài ra như vô tận… Ra tới lối rẽ vào ngục Đăk Glei, tôi dừng lại để chụp tấm ảnh vọng về cố hương cụ Mét. Nhìn những dải mây xám màu cổ tích đang nuốt dần Kông Lố, tôi như nghe trong gió tiếng vọng của núi nước, tiếng hồn của những người xưa bất khuất vọng về…
N.T.
Địa chỉ liên lạc: Ngọc Tấn – VP đại diện Báo Nông thôn ngày nay khu vực Tây nguyên. 48 B Hùng Vương – Plei Ku – Gia Lai.

12 Comments

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *